Vợ Nguyễn Mạnh Tường khó có thể đòi lại nửa chiếc ô tô

Tác giả  2014-12-20 22:00:13

Mới đây, bà Nguyễn Thị Hằng, vợ của bị cáo Nguyễn Mạnh Tường làm đơn kháng cáo gửi đến TAND Hà Nội.
 
Theo nội dung kháng cáo của bà Hằng vừa gửi đơn cho rằng việc tòa sơ thẩm tuyên tịch thu xung công chiếc xe KIA BKS 29A- 488.81 do chồng bà chở nạn nhân đi phi tang là chưa thỏa đáng và bà Hằng muốn xin lại nửa giá trị của chiếc xe này.
 
Theo bà Hằng, đây là tài sản chung của vợ chồng nên muốn xin trả lại một nửa giá trị chiếc xe này.
 
Liên quan đến vấn đề này, PV đã có cuộc trao đổi với luật sư Đặng Văn Cường, trưởng văn phòng luật sư Chính Pháp, đoàn luật sư thành phố Hà Nội.
 
Theo luật sư Đặng Văn Cường chia sẻ, khi áp dụng áp dụng Điều 76 BLTTHS để xử lý vật chứng thì bà Hằng được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và có quyền kháng cáo đối với phần bản án tuyên về tài sản, bồi thường liên quan tới quyền lợi, nghĩa vụ của bà Hằng.
 
Vì vậy có thể khẳng định là bà Hằng có quyền kháng cáo đối với phần bản án có liên quan tới bà Hằng.
 
Luật sư Đặng Văn Cường

Luật sư Đặng Văn Cường, trưởng văn phòng luật sư Chính Pháp, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội.

Nội dung kháng cáo của Bà Hằng liên quan tới chiếc xe ô tô đó sẽ là vấn đề tranh cãi áp dụng điểm a hay điểm b, khoản 2, Điều 76 BLTTHS. Nếu áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 76 BLTTHS thì tòa án sẽ tuyên án là tịch thu, xung công chiếc xe đó. Nếu áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 76 BLTTHS thì tòa án sẽ xác định trả lại 1/2 chiếc xe đó cho bà Hằng.
 
Theo quan điểm cá nhân của Luật sư Đặng Văn Cường thì việc đòi lại chiếc xe đó là rất khó có cơ sở để tòa án cấp phúc thẩm xem xét. Theo thông tin đã đưa thì khi bị cáo Tường và Khánh mang xác nạn nhân đi phi tang thì bà Hằng có ngồi trong ô tô.
 
Như vậy thì bà Hằng đã biết hành vi của Tường và Khánh nhưng không ngăn cản, cũng không báo công an, không có gì chứng minh là chiếc xe đó bị Tường chiếm đoạt để gây án ngoài ý chí chủ quan của bà Hằng, việc sử dụng xe là bà Hằng cũng biết và cùng ngồi trên xe. 
 
Do vậy, việc đòi lại giá trị 1/2 chiếc xe chở nạn nhân đi phi tang của bà Hằng không có căn cứ, việc này rất khó để được tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận. 
 
Nếu xác định chiếc xe đó là tài sản chung vợ chồng giữa bị cáo Tường với bà Hằng và bị cáo Tường sử dụng chiếc xe đó để gây án ngoài sự kiểm soát của bà Hằng, bà Hằng không biết về việc đó, không cho phép việc đó xảy ra thì mới có thể đòi lại 1/2 giá trị chiếc xe đó.
 
Trong vụ việc đó trên xe, chở xác nạn nhân đi vứt phi tang chỉ có Khánh, Tường và bà Hằng. Vì vậy, cần kiểm tra lại lời khai của ba người này từ đầu đến cuối có khớp nhau không, có điểm nào mâu thuẫn không
 
Nếu bà Hằng không thể hiện việc ngăn cản, khuyên can mà còn có lời nói, cử chỉ thể hiện sự giúp sức, hay xúi giục hai bị cáo này phi tang xác nạn nhân thì bà Hằng cũng sẽ bị xử lý với vai trò đồng phạm, trước đó bà Hằng chỉ bị xử lý hành chính về hành vi không tố giác tội phạm, luật sư Cường chia sẻ thêm.

Trước đó, trong 2 ngày 04-05/12/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Tường 14 năm tù tội Vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác; 5 năm tù tội Xâm phạm thi thể, mồ mả. Tổng cộng hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 19 năm tù.
 
Ngoài ra, HĐXX cũng tuyên buộc bị cáo Tường bồi thường số tiền 558 triệu đồng, có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Huyền một triệu đồng mỗi tháng/người. Bị cáo này còn bị cấm hành nghề 5 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
 
Bị cáo Đào Quang Khánh (18 tuổi, bảo vệ của thẩm mỹ viện Cát Tường) lĩnh án 24 tháng tù tội Xâm phạm thi thể, 9 tháng tù tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt là 33 tháng tù.
 
Điều 76 BLTTHS: Xử lý vật chứng
 
1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.
 
2. Vật chứng được xử lý như sau:
 
a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ;
b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;
c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;
d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật;
đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.
 
3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.
 
4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
Giang Đặng 
 
Tin nổi bật