Thứ bảy 08/08/2020 00:58

Gây tai nạn rồi bỏ trốn, xử lý trách nhiệm ra sao?

09:27 | 29/12/2019

Luật Giao thông đường bộ quy định nghiêm cấm hành vi bỏ trốn sau khi gây tai nạn, do đó người điều khiển phương tiện cần nhanh chóng giúp đỡ hoặc đưa nạn nhân đến bệnh viện cấp cứu kịp thời.

Ảnh: V.X
Ảnh: V.X

Luật Giao thông đường bộ quy định nghiêm cấm hành vi bỏ trốn sau khi gây tai nạn, do đó người điều khiển phương tiện cần nhanh chóng giúp đỡ hoặc đưa nạn nhân đến bệnh viện cấp cứu kịp thời.

Tại Điều 38 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định, người điều khiển phương tiện và những người liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn phải có trách nhiệm: Dừng ngay phương tiện, giữ nguyên hiện trường, cấp cứu người bị nạn và phải có mặt khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, đồng thời ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến.

Bên cạnh đó, tại khoản 17 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ cũng quy định nghiêm cấm hành vi bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm.

Vì vậy, việc người điều khiển phương tiện gây tai nạn rồi bỏ trốn là vi phạm đến điều cấm trong Luật Giao thông đường bộ và trách nhiệm của cá nhân gây ra tai nạn.

Về xử lý trách nhiệm thì tùy vào từng trường hợp, căn cứ vào tính chất, mức độ của vụ việc mà có thể xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự.

Cụ thể, luật quy định về xử lý hình sự như sau: Người gây tai nạn giao thông rồi bỏ trốn còn có thể bị xử lý hình sự về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về xử lý hành chính: Căn cứ vào điểm b khoản 7 Điều 5 Nghị định 146/2016 thì hành vi người điều khiển phương tiện gây tai nạn giao thông bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền sẽ bị phạt tiền từ 5-6 triệu đồng.

Cùng với đó, người vi phạm gây tai nạn dẫn đến hậu quả làm chết người sẽ bị phạt tiền từ 30-100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1-5 năm.

Trường hợp người phạm tội mà bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn thì bị phạt tù từ 3-10 năm.

Ngoài ra luật còn quy định, nếu người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

Tường hợp phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 1-5 năm: Người gây tai nạn không cứu giúp nạn nhân trong tình trạng nguy hiểm, hoặc người được pháp luật hay nghề nghiệp phải có nghĩa vụ cứu giúp người bị nạn.

Như vậy, việc không cứu giúp người bị tai nạn giao thông không những vi phạm đạo đức mà còn là hành vi vi phạm pháp luật. Trên đây là khái quát các quy định của pháp luật về trách nhiệm cứu chữa người bị tai nạn giao thông.

Ảnh: V.X
Ảnh: V.X

Trần Khanh

https://laodong.vn